Bài Học Mỗi Sám Hối, ngày 14-5-2018, Bài Thứ 2:  LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TRUNG HOA

PHẬT HỌC PHỔ THÔNG KHÓA 5
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

Bài Thứ 2:  LỊCH SỬ PHẬT GIÁO TRUNG HOA

 

  1. Mở Ðề 

Như chúng ta đã biết qua trong bài học thứ nhất, cái nguồn của đạo Phật ở Ấn Ðộ, trong khi trưởng thành đã chia thành hai nhánh cây lớn, một nhánh hướng về phía Nam, tức là Nam tông Phật Giáo; còn nhánh kia thì hướng về phía Bắc, tức là Bắc truyền Phật Giáo.

Nói đến Bắc Truyền Phật Giáo, thì quốc độ lớn nhất và có một ảnh hưởng quyết định đến những nước chung quanh là Trung hoa. Vậy muốn biết lịch sử truyền bá Phật Giáo Bắc Truyền hay Ðại-thừa Phật Giáo, chúng ta không thể không nghiên cứu sự phát-triển, sự thăng trầm của đạo Phật Trung hoa, từ khi đạo Phật mới du nhập vào khối người đông đảo nhất thế giới này cho đến thời cận đại.

Khi chúng ta đã nhận thấy được những đường nét chính của lịch sử Phật Giáo Trung hoa, thì chúng ta cũng sẽ có được một vài khái niệm và màu sắc chính của đạo Phật ở Việt Nam trong quá khứ.

B.- Chánh Ðề: 

I.- Thời Kỳ Sơ Khởi 

Theo các sách sử còn truyền lại, thì người dân Trung hoa đã có nghe nói đến đạo Phật từ lâu lắm và rải rác trong dân chúng ở phía Tây, cũng có người đã theo đạo Phật rồi. Nhưng mãi đến triều đại Ðông Hán, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (T.L67) Vua Minh Ðế sai các ông Vương Tuân, Thái Hâm, cả thảy mười tám người qua nước Ðại Nhục Chi (môt nước ở phía Tây, trên đường từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa) để rước Phật về thờ và có mời được hai vị sư là Ca-Diếp Ma Ðằng (Kerssoapa Matanga) và Trúc Pháp Lan (Falan) qua Trung hoa. Vua Hán Minh Ðế truyền dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và cho hai Ngài ở đó dịch kinh truyền Ðạo. Hai Ngài đã dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương và mười sáu quyển kinh khác. Phật Giáo được thừa nhận ở Trung Hoa, được xây chùa, được dịch kinh,… bắt đầu từ đó. Dần dần đạo Phật càng bành trướng và các nhà truyền Ðạo từ Tây-Vức lục đục kéo sang Trung Hoa, trong số đó có những bậc nổi tiếng nhất là Ngài An Thế Cao, Chi Lâu Ca Sấm, Chi Diệu, Trúc Phật Sóc. Số kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán trong thời kỳ sơ khởi này chúng đã lên đến 300 quyển.

II.- Những Thời Kỳ Hưng Thịnh 

Trong khoảng thời gian dài hơn hai ngàn năm từ khi bắt đầu du nhập vào Trung Hoa cho đến hiện đại, đạo Phật đã nhiều lần không thành và suy vong theo các thời đại. Cứ kể một cách tỉ mỉ sự hưng thịnh và suy vong một cách liên tiếp ấy, thì viết không biết bao nhiêu trang giấy mới xong, và độc giả cũng khó nhớ cho hết được. Vì thế để giúp cho quý vị dễ nhớ chúng tôi chỉ nêu lên những điểm chính, những việc nổi bật nhất trong lịch trình biến chuyển của Phật Giáo Trung Hoa. Trước tiên chúng tôi phải nêu những thời kỳ hưng thịnh nhất, sau đó nêu những thời kỳ đen tối nhất, để quý vị có một khái niệm khá rõ rệt nhất về lịch sử truyền bá Phật Giáo tại Trung hoa.

Về sự hưng thịnh, chúng ta có thể ghi nhận bốn thời kỳ chính sau đây:

1.- Thời kỳ thứ nhứt. Từ thời Tam Quốc đến thời Tây Tấn (thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ IV T.L).   Sau khi nhà Ðông Hán mất ngôi, nước Tàu bị chia làm ba khối, tức là thời Tam Quốc: Ngụy – Thục – Ngô.  Mặc dù phân chia như thế, nhưng những nước ấy từ vua chúa đến dân gian đều quy ngưỡng theo đạo Phật, và mỗi nước đều có những vị cao tăng từ Tây Vức sang truyền đạo: ở Ðông Ngô có Ngài Khương Tăng Hội, ở Bắc Ngụy có Ngài Ðàm Ma Ca La; ở Tây Thục có Ngài Châu Tử Hàng là một cao tăng Trung Hoa, đã qua Tây-Vức học chữ Phạn và tìm nguyên bản kinh chữ Phạn để dịch lại, hầu làm giàu thêm cho kho tàng kinh điển Trung hoa.

Nhưng phải đợi đến đời Tây Tấn, Phật Giáo Trung hoa mới thấy được cái vẻ rực rỡ của thời kỳ thịnh phát thứ nhất. Năm 310 Tây lịch, dưới đời nhà Tây Tấn niên hiệu Vĩnh Gia, một vị cao tăng từ Tây Vức là Ngài Phật Ðồ Trừng sang thuyết pháp được nhân dân quy ngưỡng có hàng vạn người. Ngài đã đào tạo được một số đệ tử có tiếng tăm như các Ngài: Ðạo An Pháp Hoa.

Sau đó ít lâu, Ngài Cưu-Ma-La-Thập tiếp nối sự nghiệp hoằng dương chánh pháp của các bậc tiền bối và đã đưa đạo Phật Trung Hoa đến một địa vị vô cùng rực rỡ. Chính trong giai đoạn thứ nhất nầy, Trung Hoa bắt đầu có những tông phái mới là Tam Luận Tông và Thành Thật Tông.

2.- Thơì kỳ thứ hai. – Dưới thời Nam Bắc triều (thế kỷ thứ V-VI). Trong thời kỳ này nhiều vị cao tăng đã gây thêm uy thế cho đạo Phật cả trong dân gian lẫn cả triều đình, như Ngài Huệ Lâm được tham dự triều chính. Nhiều ngài đã du nhập những tông phái từ ngoài vào, hay sáng lập thêm những tông phái mới. Như ngài Bồ Đề Ðạt Ma đã từ Thiên Trúc sang truyền pháp Thiền Tông, và là vị Tổ đầu tiên của phái nầy ở Trung hoa; Ngài Tam Tạng Chơn Ðế dịch truyền luận Ðại-thừa Khởi Tín, Ngài Ðàm Vô Sấm dịch truyền Niết Bàn Tông, Ngài Nam Nhạc đại sư lập Thiên Thai Tông. Ðó là giai đoạn hưng thịnh thứ hai của Phật Giáo Trung hoa.

3.-Thời kỳ thứ ba. -Dưới đời nhà Đường (thế kỷ thứ VII- IX )Vào khoảng đầu thế kỷ thứ VII, dưới đời vua Ðường Thái Tông (vị vua thứ hai đời Đường), sau một thời gian bị phân tán vì giặc giã, đạo Phật ở Trung hoa bắt đầu thịnh phát trở lại.  Vị cao tăng đã mở đầu cho giai đoạn hưng thịnh nầy là Ngài Huyền Trang, thường được gọi là Ðường Tam Tạng pháp sư. Nhận thấy kinh điển ở nước nhà hoặc bị thiêu hủy thất lạc vì giặc giã, hay bị sai lạc nguyên bản vì dịch sai hay chép lộn, Ngài Huyền Trang tự phát đại nguyện sang Ấn Ðộ, tìm học đạo với những bậc minh sư, và đi chu du khắp Ấn Ðộ. Sau 15 năm, Ngài trở về Trung hoa, đem rất nhiều kinh tạng bằng Phạn Văn và tổ chức cuộc phiên dịch sang Hán-Văn có trên 1.500 quyển. Vua Ðường Thái Tông rất quý trọng Ngài, truyền dựng chùa Ðại Từ Ân để Ngài dịch kinh truyền đạo (1). Chính Ngài Huyền Trang và các đệ-tử của Ngài là những vị có công lớn trong việc làm sáng tỏ giáo lý Pháp Tướng Tông ở Trung hoa.

Ðộc giả muốn tìm hiểu rõ ràng công cuộc Tây-du và phiên dịch kinh tạng của Ngài Huyền Trang xin hãy tìm đọc hai tập Huyền Trang của tác giả Võ Ðình Cường do nhà Hưng Ðạo xuất bản.

Sau Ngài Huyền Trang, có Ngài Nghĩa Tịnh cũng đi chu du Ấn Ðộ bằng đường biển và thỉnh kinh đem về phiên dịch ra 60 bộ, tổng cộng được 230 quyển.

Từ đó, dưới thời Ðường, trừ một vài vị Vua, còn hầu hết các vị khác, vị nào cũng ủng hộ sùng bái đạo Phật, và đạo Phật được thâm nhập một cách mạnh mẽ trong dân gian. Xét trong bốn thời kỳ hưng thịnh, thì thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh lừng lẫy nhất của Phật Giáo Trung Hoa.

4.-Thời kỳ thứ tư. – Dưới đời nhà Minh. Từ khi nhà Ðường mất thiên hạ, đến nhà Minh, trải qua mấy trăm năm trước Trung Hoa tuần tự trải qua các triều của ngũ đại như: hậu Lương, hậu Ðường, hậu Tấn, hậu Hán, hậu Chu, và sau đó là đến nhà Tống, rồi đến nhà Nguyên.

Trong các đời vua nầy, chỉ có nhà Tống là có thiện chí chấn-hưng Phật Giáo, sau một giai đoạn điêu tàn vì chiến tranh và sự phá hủy chùa chiền của vua Thế-Tông nhà hậu Chu. Các vị vua nhà Tống đã sai sứ sang Tây-Vức thỉnh kinh cầu danh Tăng, và sắc dịch kinh điển, nên đạo Phật dần dần cũng được hồi phục, tuy có kém hơn trước.

Nhưng phải đợi đến đời vua Thái-Tổ nhà Minh (Chu Nguyên Chương) đạo Phật mới lấy lại được cái vẻ huy hoàng của những thời hưng thịnh trước. Minh Thái-Tổ, nguyên lúc nhỏ là một vị Sa-Di, nên khi lên ngôi, Ngài hết sức ủng hộ Phật Giáo.

Ngài quy định phép tắc cho Tăng-lữ, đặt những ty Tăng-cang, Tăng-chánh, Tăng-hội để quản lý các hàng Tăng-lữ. Ngài lại triệu tập các vị cao Tăng ở Trường-Sơn để kiểm duyệt kinh tạng. Các vị vua kế vị vua Minh Thái Tông, cũng tiếp tục trùng hưng Phật Giáo, nhờ thế, đạo Phật ở Trung Hoa lại thêm một lần nữa có sắc thái huy hoàng của thời xưa. Nhưng đó cũng là thời kỳ hưng thịnh cuối cùng vậy.

Thật thế, từ khi nhà Minh mất ngôi, sang nhà Thanh, mặc dù các vua chúa cũng có ủng hộ Phật Giáo, nhưng trong nhân gian ít người hiểu thấu đạo lý của Phật, mà chỉ nghĩ đến cúng cấp, mê tín, dị đoan thôi.

Phải đợi đến cuộc cách-mạng Tam-dân chủ-nghĩa (1912), đạo Phật mới trổi dậy bằng hình thức nghiên cứu Phật học và sự thành lập các hội Phật Giáo khắp nơi trong nước. Nhưng đây lại thuộc vào thời kỳ cận đại và hiện đại Phật Giáo, mà chúng ta sẽ nghiên cứu trong một bài sau.

III.-Những Thời Kỳ Suy Vong  

Như chúng ta đã biết, cuộc đời đã là vô thường, thì không có một việc gì có thể thoát ra ngoài cái luật chung ấy được. Ðạo Phật Trung Hoa đã có thời cực thịnh, như chúng ta đã thấy ở trên, tất cũng có thời kỳ suy vong mà chúng ta sắp đề cập sau đây.

Nhà viết sử Phật Giáo Trung Hoa, khi nói đến những thời kỳ suy vong của Ðạo Phật thường tóm tắt trong một câu: “Tam Võ, nhất Tông chi ách “. Câu này muốn nói cái thời vận đen tối của đạo Phật, nằm trong ba đời vua Võ: Thái Hoa nhà Hậu Ngụy, Võ-Ðế nhà Bắc-Chu, Võ-Tông nhà Ðường ‘ và trong một đời vua Thế-Tông nhà hậu Chu.

Dưới đây, chúng ta tuần tự nói đến bốn thời kỳ đen tối ấy:

1.- Thời kỳ thứ nhứt. – Dưới đời hậu Ngụy Thái-Võ-Ðế (439-450 T.L). giữa thời Nam Bắc triều (420-588TL) trong lúc đạo Phật đang thịnh hành, vua chúa đang sùng mộ, giới tăng sĩ mỗi ngày một đông, thì đến niên hiệu Thái-Bình Chơn-Quân thứ bảy (446 T.L) vua hậu Ngụy Thái-Võ-Ðế là một ông vua tàn bạo, nghe lời sàm tấu, tàn sát một cách ghê gớm các tăng lữ và phá hủy kinh tượng chùa tháp trong nước. Nhưng vận mệnh của kẻ bạo tàn không thể lâu dài được, cho nên bốn năm sau khi thi hành thủ đoạn tàn ác trên, Thái-Võ-Ðế từ trần. Văn-Thành vương lên nối ngôi, nhận thấy việc làm tàn ác, vô lý và nguy hại trên, nên đã truyền lệnh phục hưng Phật Giáo, nhờ đó đạo Phật dần dần lấy lại thanh thế cũ.

2.- Thời kỳ thứ hai: -Dưới đời bắc Chu Võ-Ðế (574 T.L). Ðến đời Võ-Ðế nhà bắc Chu, Phật Giáo lại bị tai ách lần thứ hai. Vua ra sắc lệnh bãi bỏ Phật Giáo, bắt các tăng-sĩ về làm dân, xung vào binh nội; chùa chiền bị biến thành phủ đệ cho các vương hầu ở, dân chúng bị ngăn cấm không cho thờ cúng Phật.

Nhưng ít năm sau, Võ-Ðế mất, Tuyên-đế nối ngôi, lại sắc chiếu phục hưng Phật Giáo, truyền dịch kinh luận. Nhờ đó, đến đời Tùy, Phật Giáo mới trở lại thịnh hành, vua quan đều quy-y Phật pháp.

3.- Thời kỳ thứ ba. Dưới đời Võ-Tông nhà Ðường (840-847 T.L). Tai ách thứ ba của Phật Giáo Trung Hoa xảy ra vào năm 845 T.L dưới đời Võ-Tông nhà Ðường.

Như chúng ta đã biết, đời Ðường là một giai đoạn cực thịnh của lịch sử Phật Giáo Trung Hoa, các vua chúa đời này đều sùng thượng đạo Phật. Nhưng đến đời Võ-Tông là một ông vua sùng mộ Lão-giáo, nghe theo các đạo sĩ xúi giục, đã thẳng tay đàn áp đạo Phật cũng như các tôn giáo khác, bắt 265.000 tăng ni hoàn tục; những chuông thánh bằng đồng đều bị tịch thu để đúc tiền.

Nhưng có lẽ các ông vua tàn ác không thể sống lâu, hai năm sau Võ-Ðế mất. Vua Tuyên-Tông lên ngôi, lại hạ sắc lệnh tu bổ chùa chiền, chấn hưng Phật Giáo.

4.- Thời kỳ thứ tư . – Dưới thời Thế Tông nhà hậu chu (khoảng giữa thế kỷ thứ X). Sau khi nhà đường mất ngôi, nước Trung Hoa làm mồi cho sự tranh giành xâu xé giữa các nước chư hầu, chiến tranh nỗi dậy khắp nơi, đạo Phật cũng chịu nhiều ảnh hưởng tai hại lớn vì thời cuộc. Thêm vào đó, còn có sự phá phách của một ông vua nhà Hậu-Chu là vua Thế-Tông.

Thế-Tông rất ghét Phật Giáo, nên đã sắc chỉ phá hủy chùa chiền đến 30.336 ngôi, đem tượng đồng, chuông, khánh ra đúc tiền, các kinh tạng đều bị thiêu hủy hay bị thất lạc gần hết. Trước tình trạng đen tối ấy, đạo Phật Trung Hoa tưởng đến mất tích. Nhưng không! Nhà Tống sau khi bình được thiên hạ, đã ra sức chấn hưng đạo Phật và sai sứ sang Tây-Vức thỉnh kinh và pháp sư về Trung Hoa Hoằng-dương chánh-pháp.

  1. Sáu Vị Tổ Thiền Tông Trung Hoa  

Kể về các tông phái Phật Giáo ở Trung Hoa, thì Thiền tông phát-triển mạnh mẽ và sâu rộng nhất. Ðiều đó cũng không lấy làm lạ, vì Thiền tông rất thích hợp với phần đông căn cơ người Trung Hoa, và các vị tổ của Thiền Tông là những vị Thánh Tăng rất được tín-đồ sùng mộ. Dười đây chúng ta hãy biết qua về các vị Tổ ấy: Vị Tổ Thiền Tông truyền ở Trung Hoa đầu tiên là ngài Bồ-Ðề Ðạt-Ma. Sau khi Ngài được Tổ Bát-Nhã-Ða-La trao truyền tâm pháp và phó chúc cho Ngài sang Trung Hoa đem giáo pháp truyền bá vào đời vua Lương Võ-Ðế (528 D.L). Ngài ngồi xây vào mặt tường tham thiền luôn suốt 9 năm tại chùa Thiếu-Lâm. Ngài thị tịch tại chùa Thiên-Thánh ở vùng Võ-Môn, an táng tại chùa trên núi Hùng-Nhĩ bên cạnh chùa Ðịnh-Lâm.

Trươc khi thị tịch, Tổ Ðạt-Ma có nói ra bài kệ phó chúc cho Ngài Huệ-Khả, tức Thần-Quang, (Người đã chặt cánh tay để cầu pháp với Ngài Ðạt-Ma). Bài kệ ấy như sau:

Hán văn:  

Ngô bổn lai tư thổ
Truyền pháp cứu mê tình
Nhứt hoa khai ngũ diệp
Kết quả tự nhiên thành 

Dịch nghĩa: 

Ta vốn đến đất này
Truyền pháp độ mê tình
Một hoa năm cánh nở

Kết quả tự nhiên thành. 

Ngài Huệ Khả kế thừa Ngài Ðạt Ma, làm tổ thứ hai. Ngài Tăng Xán làm tổ thứ ba. Ngài Đạo Tín là tổ thứ tư. Ngài Hoằng Nhẫn là tổ thứ năm và Ngài Huệ Năng là tổ thứ sáu; cũng là vị Tổ chính thức được truyền y bát cuối cùng của Thiền Tông ở Trung Hoa.

C.- Kết Luận 

Sau khi đọc lịch sử truyền bá Phật Giáo ở Trung Hoa, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét bổ ích sau đây:

1.- Đạo Phật tại Trung Hoa là một Tôn giáo ngoại lai, được truyền đến từ Ấn Ðộ. Trong khi Phật Giáo ở Ấn Ðộ mỗi ngày mỗi suy đồi, thì Phật Giáo ở Trung Hoa mỗi ngày mỗi thêm thanh thế và cuối cùng chinh phục được hầu hết cả một khối người đông đảo nhất trên thế giới. Vì sao? Có lẽ vì ở Ấn Ðộ, các nhà lãnh đạo truyền giáo đã không khéo thích nghi với hoàn cảnh, không khéo với sự tiến triển của thời thế, cứ giữ chặt nếp sống cũ.  Trong khi ấy thì ở Trung Hoa, các nhà truyền giáo đã khéo nhận ra căn cơ của quần chúng, biết thích nghi với hoàn cảnh và thời thế, luôn luôn phát huy những Tông phái mới để đáp ứng cho những nhu cầu tinh thần của những lớp người. Do đó mà tư tưởng đạo Phật ở Trung Hoa không bị một tôn giáo nào lấn lướt được.

2.- Cũng như ở Việt nam, các triều đại ở Trung Hoa khi mới lên ngôi, thì các ông vua khai quốc bao giờ cũng sùng mộ đạo Phật và khuyến khích sự truyền giáo, còn các ông vua cuối cùng, trái lại, thường hay hủy phá đạo Phật, trước khi mất ngôi. Những sự kiện ấy cho phép ta kết luận rằng: Các vị vua khai quốc phần nhiều là những vị có đức hạnh và sáng suốt.  Nhận thấy cần phải chấn hưng Phật Giáo thì dân chúng mới được thuần lương và nước nhà mới thịnh trị. Trái lại, các vị vua cuối cùng phần nhiều là những hôn quân vô đạo, nên đã hủy phá Phật pháp. Vì thế, nước đã loạn lại càng loạn thêm, và vì thế các ngai vàng của các vị đó cũng sụp đổ theo với đà sụp đổ của các nước.

3.- Đạo Phật ở Trung Hoa có lúc thịnh và lúc suy. Trong sự thịnh suy ấy, công và tội của các vị vua rất lớn, nhưng không phải là tất cả. Các vị vua chỉ tăng cường thượng duyên, còn nguyên nhân chính, động cơ chính vẫn là giới tín đồ và nhất là giới lãnh đạo Phật Giáo. Khi mà tín đồ có đạo hạnh và lòng tin tưởng mạnh mẽ, các nhà truyền giáo có nhãn quan sáng suốt, thì dù các vị vua có muốn phá đạo cũng chỉ phá được một phần nào thôi. Cũng như khi mà tín đồ thiếu đạo hạnh và lòng tin, các vị lãnh đạo thiếu tinh thần tiến thủ và sáng suốt, thì vị vua dù có muốn nâng đỡ đạo Phật, cũng chỉ nâng đỡ một phần nào thôi.

Cho nên, bao giờ cũng thế, sự xây dựng hay sự phá hoại, trước tiên đều do từ bên trong mà ra cả.

Advertisements