NGƯỜI CON MÙ CỦA VUA A-DỤC


Hai trăm năm sau ngày Phật Cồ-đàm nhập diệt, một viên tướng tên là Adục
(Ashoka) nắm quyền lãnh đạo Ấn Độ. Là một vị vua đầy uy quyền, ông
thống nhất sứ xở chia năm xẻ bảy, cho xây đường xá, đào giếng, bệnh viện
nhà nghỉ và nhất là bảo tháp, đền miếu, mà ngày nay người ta vẫn còn xem
là một trong những công trình to lớn của con người.
Mới đầu A-dục vương là một con người hiếu chiến, nhưng về sau ông
được một Tăng sĩ Phật giáo khuyên nên theo chủ trương hòa hiếu, bất bạo
động. Nhà vua gặp vị Tăng sĩ này lần đầu trên đường đầy bụi bặm và thấy
xót thương. Nhưng khi tới gần, ông nhận ra ánh sáng an tịnh trên khuôn
mặt vị tu sĩ, và ông thấy nơi người du khất này một cái gì mà một Quốc
vương như ông tìm kiếm lâu ngày chưa được.
A-dục gia nhập Giáo hội và bắt đầu thiền định. Ông đi sâu vào giáo lý
của Phật và nhiều lần hành hương đến thăm cây Bồ-đề tại Giác Thành, một
gốc cây Thánh vì đây là nơi Phật Cồ-đàm thành đạo.
Trước đó không lâu, vua A-dục lấy vợ, nàng tên là Tisja Rakscha. Vị
hoàng hậu này không vui khi thấy nhà vua cứ đến tham vấn Tăng đoàn,
không quan tâm đến nàng. Tisja Rakscha cảm giác bị bỏ bê và ghen tức đến
mức nàng sai cận thần ghi chép giờ giấc nhà vua đến Giác Thành bao nhiêu
và thời gian dành cho nàng bao nhiêu.
Cuối cùng khi so sánh, nàng giận dữ tới mức sai cận thần cho đốn chặt
cây Bồ-đề. Cây đó bị chặt thật nhưng lạ lùng thay, qua ngày mai nó lại mọc
lên như cũ.
Sau đó Tisja tìm mọi cách quyến rũ người con trai lớn của A-dục. Thái tử
Kunala là con ghẻ của nàng và là người thừa kế ngôi cha. Nhưng Kunala biết
rõ âm mưu của nàng nên thẳng thừng từ chối. Vị hoàng hậu trẻ tuổi hậm
hực và quyết báo thù hai cha con.
Nhân dịp nhà vua lại đi thăm đền ở Giác Thành, hoàng hậu âm mưu với
triều đình bắt tội Kunala nhốt vào ngục, bộ hạ của nàng lẻn vào ngục khoét
mắt chàng. Không ai cứu chàng kịp, chàng trở thành mù lòa.
Trong cơn tuyệt vọng, chàng nhớ lời một vị hiền nhân đã già nói cách đó
nhiều năm: “Không có gì trên đời này là thường hằng. Bất cứ điều gì ngươi
sẽ có, rồi nó cũng sẽ mất. Vì vậy hãy giữ những gì mà ngươi là, và lúc đó
những cái mất lớn nhất sẽ trở thành những cái được lớn nhất”.
Cai ngục lấy mất ánh sáng của mắt chàng thì ngay lúc đó ánh sáng trí tuệ
bùng lên và Kunala thấy tất cả sự vật đúng như chúng là, vượt ra ngoài
thông thường cảm nhận của thế gian. Bây giờ chàng biết vị hiền nhân nọ đã
biết trước số phận của chàng nhưng không ra tay cứu giải.
Càng lúc, Kunala càng đi sâu vào thế giới bên trong và để mặc cho trời
đất muốn xử sao với người có tội cũng được. Chàng không cần khai báo gì
cả vì A-dục không bao lâu sau đã biết ai là người gây tội khoét mắt con mình
và cho Tisja Rakscha hưởng hình phạt xứng đáng.
Kunala rời bỏ ngai vàng và nhường ngôi cho con trai làm vua Ấn Độ. Sau
đó ông rút vào rừng miền Tây Bắc, sống như một tu sĩ và an nhiên tu tập
thiền định.
Cuối cùng, chàng đối trị được lòng sân hận luôn luôn quay trở về trong
tâm và hoàn toàn xả bỏ. Rồi cũng tới ngày mà chàng cảm tạ Tisja Rakscha về
hành động xấu ác đó, vì cũng nhờ đó mà chàng mở được con mắt trí tuệ và
lên ngôi vua của sứ xở nằm ngay trong tâm mình.
Từ một con người mù loà Kunala đã sinh ra một bậc A-la-hán có thiên
nhãn, một bậc hiền nhân. Vô số con ngưòi đã tìm được an ủi và sự cứu độ
với vị đó.
Trích “SƯ TỬ TUYẾT BỜM XANH”
Nguyễn Tường Bách dịch.